Điểm du lịch Huế
Chùa ở Huế
Chùa
Thiên Mụ (Linh Mụ)
Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km đi thẳng đường
chính Kim Long là đến, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long. Chùa
có view nhìn xuống sông Hương lãng mạn, thanh tĩnh. Các bạn có thể book tàu đi
trên sông Hương để tham quan chùa trong vòng 2h.
Chùa
Huyền Không
Có 2 chùa Huyền Không là chùa Huyền Không 1 và chùa
Huyền Không Sơn Thượng 2, cách Huế 8km đi theo hướng chùa Thiên Mụ. Chùa Huyền
Không 1 không có gì đặc sắc, chùa Huyền Không 2 đẹp và có phong cảnh hữu tình
nhưng đường đi hơi khó.
Chùa
Từ Đàm
Tọa lạc ở phường Trường An, cách thành phố Huế khoảng
2 km về hướng Nam. Cấu trúc chung của chùa được gọi là "kiểu chùa Hội"
phối hợp giữa đường nét nghệ thuật kiến trúc mới và cũ, với yêu cầu rộng rãi,
cao ráo, cổ kính nhưng đơn giản, Chùa Từ Ðàm có ba bộ phận quan trọng là tam
quan, chùa chính và nhà hội. Vào cửa không tốn phí.
Chùa
Thiền Lâm
Chùa lớn và đẹp nhưng khá xa trung tâm Huế, đi về hướng
Núi Bạch Mã, cách Huế 25km mới đến được chùa. Ðiểm thu hút khách thập phương và
Phật tử các giới là nơi đây có phong cảnh u tịch, thoáng mát, nhiều cây cao
bóng cả, là môi trường sinh thái rất tốt. Ở đây, không khí trong lành, tĩnh lặng
rất phù hợp cho những bậc chân tu dừng chân để hành đạo và xiển dương Giáo
pháp. Du khách đến đây tham quan, viếng chùa lễ Phật được hưởng không khí an
lành, có thể quên đi những tháng ngày mệt nhọc và phiền não.
Điện
Hòn Chén
Được xây dựng trên núi Ngọc Trản thuộc lòng Hải Cát.
Ngọc Trản là một ngọn núi cheo leo bên bờ vực thẳm – chỗ sâu nhất của dòng sông
Hương. Sườn núi cây cối mọc um tùm. Trên đỉnh có một chỗ trũng xuống, đường
kính vài mét, nước mưa thường đọng lại, trông giống cái chén đựng nước trong.
Vì vậy, từ xưa núi được đặt tên là Ngọc Trản sơn (núi Chén Ngọc), dân gọi là
Hòn Chén. Để tham quan điện Hòn Chén có thể đi xe hoặc đi thuyền trên sông
Hương.
Di tích lịch sử văn hóa ở Huế
Đại Nội
Nằm ngay trong lòng thành phố, thuận tiện cho việc
đi lại tham quan. Ðại Nội là khu lịch sử quý nhất trong quần thể di tích
Cố đô Huế được Tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế giới ngày
11-12-1993 và tài trợ trùng tu phần lớn các bộ phận. Sau đó cứ hai năm một lần
hàng trăm nghìn người lại đến đây tham dự một lễ hội văn hóa lớn với sự hợp tác
tích cực của Cộng hoà Pháp. Cho đến ngày nay, Đại Nội chỉ mới trùng tu một số
phòng và cung ở phía ngoài, còn bên trong vẫn còn hoang tàn đỗ nát cho chiến
tranh gây nên.
Lăng
Khải Định
Nằm cách trung tâm phố Huế khoảng 9km, Lăng Khải Định
có kiến trúc rất lạ, không giống như lăng tẩm của các vị vua trước, nó là
một sự pha trộn nhiều trường phái kiến trúc khác nhau. Nhiều người cho rằng
Lăng Khải Định là đẹp nhất do sự hoành tráng về cách sử dụng vật liệu xây dựng
cũng như do được bảo tồn tốt nhưng cũng khá nhiều người cho rằng đây là một
lăng pha trộn hỗn tạp các giá trị nghệ thuật. Vé tham quan 55.000đ/khách.
Lăng
Tự Đức
Cách trung tâm Huế khoảng 8km, Lăng Tự Đức xây dựng
trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng (nay là thôn Thượng Ba,
xã Thủy Xuân thành phố Huế). Đây là một trong những công trình đẹp nhất của kiến
trúc cung đình thời Nguyễn. Lăng nằm giữa một rừng thông bát ngát. Các công
trình xây dựng cũng đã bị xuống cấp nhiều. Giá vé tham quan 55.000đ/khách.
Lăng
Minh Mạng
Cách trung tâm Huế khoảng 12km, đây có thể được xem
là Lăng lớn ở Huế, kiến trúc hài hòa và đẹp mắt. Thăm lăng Minh Mạng, du khách
ngỡ mình lạc vào không gian của hội họa, thi ca và triết học. Sự uy nghiêm, nét
tĩnh tại của kiến trúc và khung cảnh gợi tình của thiên nhiên, hoa cỏ thể hiện
tính cách nghiêm khắc, tri thức uyên bác và tâm hồn lãng mạn của nhà vua.Giá vé
tham quan 55.000đ/khách.
Lăng
Gia Long
Lăng Gia Long là một quần thể nhiều lăng tẩm trong
hoàng quyến, nằm trong dãy núi Thiên Thọ thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên - Huế, cách trung tâm Thành phố Huế 16km. Kiến trúc lăng có vẻ đơn
sơ nhưng hoành tráng.
Đến thăm lăng Gia Long, du khách có thể đi thuyền
theo sông Hương khoảng 18km rồi cập bến lăng, hoặc đi theo đường bộ chừng 16km,
xuống bến đò Kim Ngọc, đi thêm vài cây số nữa thì tới.
Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi
lớn nhỏ trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của
lăng và là tên gọi của cả quần sơn này.
Lăng bắt đầu được xây dựng từ năm 1814 và đến năm
1820 mới hoàn tất. Từ bờ sông Hương đi vào lăng có con đường rộng, hai bên trồng
thông và sầu đông cao vút, xanh um, tạo ra một khững khí trong mát, tĩnh mịch.
Hai cột trụ biểu uy nghi nằm ở ngoài cùng, báo hiệu khu vực lăng.
Lăng tẩm nhà vua nằm trên một quả đồi bằng phẳng, rộng
lớn .Trước có ngọn Đại Thiên Thọ án ngữ, sau có 7 ngọn núi làm hậu án. Bên trái
có 14 ngọn núi làm “tả thanh long” và bên phải có 14 ngọn làm “hữu bạch hổ”. Tổng
thể lăng được chia làm 3 khu vực:
Chính giữa là lăng mộ vua và Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu.
Qua khỏi sân chầu có các hàng tượng đá uy nghiêm và bảy cấp sân tế là Bửu Thánh
ở đỉnh đồi. Trong Bửu Thánh có 2 ngôi mộ đá được sáng tác theo quan niệm “Càn
Khôn hiệp đức”, biểu tượng cho hạnh phúc và thuỷ chung.
Bên phải là khu tẩm điện mà điện Minh Thành là trung
tâm nơi thờ Hoàng đế và Hoàng hậu thứ nhất. Trước đây trong điện Minh Thành có
thờ nhiều kỷ vật gắn bó với cuộc đời chinh chiến của Gia Long.
Bên trái khu lăng là Bi Đình, nay chỉ còn tấm bia lớn
ghi bài “Thánh Đức Thần Công” của vua Minh Mạng soạn, ca ngợi vua cha được chạm
khắc tinh tế, sắc sảo.
Ngoài ra còn có các lăng phụ cận trong khu vực này
như lăng Quang Hưng (bà vợ thứ hai của chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần), lăng
Vĩnh Mậu (vợ chúa Ngãi vương Nguyễn Phúc Trăn); lăng Toại Thánh (vợ thứ hai của
Nguyễn Phúc Luân và là thân mẫu của Gia Long),…lăng Thiên Thọ Hữu của bà Thuận
Thiên Cao Hoàng Hậu, thân mẫu của vua Minh Mạng, bên cạnh có điện Gia Thành
dùng để thờ.
Lăng Gia Long là một bức tranh tuyệt vời giữa thiên
nhiên và kiến trúc đã tạo nên nét hùng vĩ hoành tráng của cảnh quan.
Lăng
Dục Đức
Lăng có kiến trúc đơn giản và khiêm tốn, tọa lạc ở
phường An Cựu, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đây là nơi yên nghỉ của
vua Thành Thái và Duy Tân.
So với các lăng tẩm khác của các vua nhà Nguyễn,
lăng Dục Đức có kiến trúc đơn giản và khiêm tốn hơn. Khu lăng mộ hình chữ nhật
có diện tích 3.445m2, bên trong không có Bi Đình và tượng đá. Vào
lăng phải đi qua cổng tam quan khá lớn xây bằng gạch, trên có mái giả.
Sau cửa là Bái Đình không có tượng đá mà chỉ xây lan
can bằng vôi gạch. Kế đó là một cửa tam quan 3 tầng cũng xây mái giả và trang
trí hình ảnh hoa lá bằng cách đắp nổi sành sứ.
Chính giữa Bửu Thành có một nhà hình ốc được xây
trên nền hình vuông mỗi cạnh khoảng 8m, mái lợp ngói hoàng lưu ly bên trong có
bàn và sập đá thanh dừng để bày hương án và lễ vật khi cúng kỵ. Hai bên tả hữu
là mộ vua Dục Đức và Hoàng hậu Tư Minh nằm đối xứng nhau. Tấm bình phong trước
mộ vua có đắp nổi hai chữ “hỷ” ghép lại với nhau, đối xứng với “song hỷ ‘ là
hình ảnh chữ “thọ”.
Điện Long Ân: ở trung tâm khu vực tẩm, được xây dựng
theo khuôn mẫu của các ngôi điện ở Huế. Bên trong có ba án thờ bài vị các vua:
Dục Đức (và vợ thờ ở giữa), Thành Thái (bên trái) và Duy Tân (bên phải).
Phía sau điện Long Ân là nơi yên nghỉ của hai ông
vua Thành Thái, Duy Tân. Trong khu vực này còn có nhiều ngôi mộ của những người
trong quyến thuộc các vị vua trên.
Lăng Dục Đức cũng mang quy cách kiến trúc chung cửa
các lăng khác nhưng có một số nét nghệ thuật cá biệt riêng. Lăng Dục Đức làm
phong phú thêm cho sắc thái vả chất lượng của quần thề kiến trúc lăng tẩm.
Lăng
Đồng Khánh
Lăng Đồng Khánh được xây dựng trên vừng đat thuộc
làng Cư Sĩ, nay là thôn Thượng Hai, xã Thuỷ Xuân, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên
– Huế. Lăng được xây dựng trong 4 đời vua (1888-1923) nên vừa mang lối kiến
trúc xưa vừa chịu ảnh hưởng của kiến trúc Tây Âu.
Sau khi lên ngôi tháng 2/1888, Đồng Khánh cho xây dựng
ở bên cạnh lăng mộ vua cha ngôi điện đặt tên Truy Tư để thờ cúng cha. Công việc
đang triển khai thì vưa Đồng Khánh mắc bệnh đột ngột và qua đời.
Vua Thành Thái lên kế vị và cho đổi điện Truy Tư
thành Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh. Thi hài nhà vua được mai táng đơn giản
trên quả đồi có tên là Hộ Thuận Sơn,cách Điện Ngưng Hy 30m về phía tây. Toàn bộ
khu lăng tẩm được gọi là Tư Lăng.
Năm 1916, Khải Định – con trai của Đồng Khánh lên
ngôi, cho tu sửa điện thờ, xây cất lăng mộ cho cha mình và cho đến tháng
7/1917, mới xong phần cơ bản và đến năm 1923 thì hoàn tất.
Quá trình xây dựng lăng Đồng Khánh diễn ra trong 4 đời
vua (1888 – 1923), vì vậy lăng Đồng Khánh mang dấu ấn hai trường phái kiến trúc
của hai thời điểm lịch sử khác nhau. Khu tẩm điện: các công trình vẫn mang lối
kiến trúc xưa lối kiến trúc “Trùng Thiềm Điệp Ốc” (Nhà có nhiều bộ mái nối tiếp
nhau). Chính điện và các nhà cửa phụ thuộc, vẫn là những hàng cột sơn son thếp
vàng lộng lẫy với trang trí tứ linh tứ quí Điện Ngưng Hy có 24 đồ bản vẽ các bức
tranh trong điển tích “Nhị thập tứ hiếư”, kể về những tấm gương hiếu thảo ở
Trung Hoa. Trên các cỗ diêm, bờ nóc, bờ quyết của Điện Ngưng Hy xuất hiện nhĩmg
phù điêu bằng đất nung với các trang trí rất dân giã như “Ngư ông đắc lợi” ,
“Gà chọi”. Việc xuất hiện hệ thống cửa kính nhiều màu và hai bức tranh,…đã nói
lên ảnh hưởng của văn hoá Tây Âu.
Khu lăng: Kiến trúc lăng mộ hầu như được “âu hoá ‘
hoàn toàn từ đặc trưng kiến trúc, mô típ trang trí đến vật liệu xây dựng. Bi
Đình là sự biến thể của kiến trúc Romance pha trộn kiến trúc Á Đông. Tượng quan
viên cao, gầy đắp bằng xi măng và gạch thay cho tượng đá ngói ác đoa, gạch ca
rô.
Thắng cảnh ở Huế
Núi
Ngự Bình
Núi Ngự Bình là ngọn núi đẹp, nằm
trong địa bàn phường An Cựu, các bờ nam sông Hương khoảng 3 km, là ngọn
núi nổi tiếng nhất xứ Huế. Núi Ngự Bình thuộc Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên -
Huế, cách phía trước kinh thành Huế khoảng hơn 3km. Đứng trên đỉnh Ngự Bình,
nhìn ra xa xa có thể thấy kinh thành Huế bên dưới ẩn hiện những lâu
đài thành quách giữa một màu xanh của cây cối, sông Hương như dải
lụa uốn lượn quanh co, và xa hơn nữa là những đồi cát trắng tận mãi biển
Thuận An.
Sông
Hương
Đây là biểu tượng đẹp và lãng mạn khi nhắc đến Huế,
con sông hiền hòa, đẹp chảy dài gần như xuyên suốt thành phố và đi qua nhiều di
tích thuận tiên cho việc tham quan bằng thuyền. Các bạn có thể thuê thuyền du
ngoạn trên sông Hương vào buổi sáng để tham quan các lăng, điện Hòn Chén và
chùa Thiên Mụ, đi thuyền nghe ca Huế và thả đèn trên sông vào buổi tối.
Núi Bạch
Mã
Cách Huế 60km về phía Nam, ở độ cao 1.450m, là nơi
nghỉ mát nổi tiếng ở Việt Nam. Trên đỉnh núi hùng vỹ 4 mùa xanh tươi với thác
nước, suối rừng, là cả một vùng khí hậu ôn đới như ở SaPa, Tam Ðảo, Ðà Lạt… Núi
Bạch Mã còn là nơi quy tụ nhiều loại động vật và thực vật quý hiếm ở miền nhiệt
đới. Đường lên núi khá khó khăn và có đoạn cấm xe máy đi lên do đường nguy hiểm.
Nhà
Vườn Huế
Những vườn đẹp của Huế được hình thành ven bờ sông
Hương như Long Hồ, Ngọc Hồ, Hương Long, Kim Long, Nguyệt Biều, Lương Quán,
Dương Xuân, Vỹ Dạ, Bao Vinh…, Phước Tích (xuôi ven sông Ô Lâu). Một số nhà vườn
đẹp nổi tiếng là An Hiên, Ngọc Sơn Công Chúa Từ, Lạc Tịnh Viên…
Đồi
Vọng Cảnh Huế
Đồi Vọng Cảnh cách trung tâm Thành phố Huế khoảng
7km. Đứng trên Đồi có thể nhìn thây được phong cảnh nên thơ của Thành phố Huế,
đặc biệt là khu lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn.
Cách núi Ngự vài km là đồi Vọng Cảnh, một danh thắng
khác của Huế, đứng soi bóng duyên dáng bên dòng sông Hương, nhìn qua núi Ngọc
Trản. Từ đồi Vọng Cảnh có thể nhìn thấy những khu vườn cây ăn quả mướt xanh của
cau, nhãn cam, quýt, thanh trà… chen lẫn bóng thông, những mái nhà ngói xám của
đền chùa, lăng tẩm cổ kính, trầm mặc… Sông Hương như một dải lụa mềm uốn quanh
dưới chân đồi… Đồi Vọng Cảnh không đẹp bằng Núi Ngự Bình, nhưng đúng như tên gọi
của nó vì đứng ở trên đồi Vọng Cảnh có thề nhìn thấy được phong cảnh nên thơ của
thành phố Huế đặc biệt là khu Lăng tẩm của các vua Nguyễn.
Du khách có dịp đến đây vào buổi bình minh sương tan
hay lúc hoàng hôn, mới hiếu hết và thấm thía vẻ đẹp nên thơ, nên họa của một ngọn
đồi, một khúc sông, một góc trời xứ Huế.
Bãi
biển Thuận An
Bãi biển Thuận An thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế.nằm bên cạnh cửa biển Thuận An, nơi dòng sông Hương
đổ ra phá Tam Giang rồi thông ra biển. Bãi biển cách Tp. Huế 15km và du khách
có thể đi đến đó bằng ô tô. Tại đây du khách có thể đến tham quan miếu Thái
Dương ở gần đó với sự tích nữ thần Thái Dương được dân làng hết sức sùng bái,
hoặc thăm miếu Âm Linh thờ thần cá voi, con vật linh thiêng của dân miền biển.
Lưu ý, khi tắm biển ở Thuận An, bạn nên tránh bơi ra quá xa vì dễ gặp nước xoáy
bất ngờ.
Bãi
biển Cảnh Dương
Bãi biển Cảnh Dương cách thành phố Huế chừng 60km,
dài 8km, rộng 200m, hình vòng cung, nằm giữa mũi Chân Mây Tây và Chân Mây Ðông,
phong cảnh rất hấp dẫn, là một trong những bãi biển đẹp nhất ở Huế. Bãi biển Cảnh
Dương có độ dốc thoai thoải, cát trắng mịn, nước biển trong xanh và tương đối
kín gió. Đây là bãi tắm và là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng sau những ngày bộn bề
công việc.
Bãi
biển Lăng Cô
Bãi biển Lăng Cô cách TP Huế 80 Km và TP Đà Nẵng 30
Km, dài khoảng 10km, nằm dọc Quốc lộ 1A. Bãi biển Lăng Cô hiền hòa, nguyên sơ với
một dải cát trắng mịn, mặt nước biển xanh trong, được bình chọn là vịnh đẹp nhất
thế giới. Ở đây có resort Lăng Cô nằm sát biển với phong cảnh yên bình tĩnh lặng,
thich hợp cho du khách thích rời xa chốn thành thị, giá cả khá mềm so với các
resort khác ở Đà Nẵng. Để đến resort này, du khách chỉ cần đi xe open tour từ
Đà Nẵng đi Huế và xin dừng ở Resort Lăng Cô ngay trên đường đi.
Chợ
Đông Ba Huế
Chợ Đông Ba là trung tâm thương mại lớn nhất của tỉnh
Thừa Thiên – Huế và khu vực nằm dọc theo bờ bắc sông Hương, bên đường Trần Hưng
Đạo, thành phố Huế, cách cầu Trường Tiền khoảng 100m về phía bắc.
Trước khi có chợ Đông Ba, bên ngoài cửa Chánh Đông
(tức cửa Đông Ba theo cách gọi dân gian) dưới thời Gia Long có một cái chợ lớn
mang tên “Qui giả thị”. Tên cái chợ này đánh dấu sự kiện trở lại Phú Xuân của
quan quân nhà Nguyễn. Thời Quang Toản loạn lạc, nhân dân chạy tứ tán, đến đầu
triều Nguyễn thái bình, nhân dân trở lại từ khắp nơi. Qui Giả là ngôi chợ của
những người trở về. Gần một thế kỷ sau, mùa hè năm 1885, Kinh đô thất thủ, chợ
Qui Giả bị giãc Pháp đốt sạch. Đến năm 1887 vua Đồng Khánh cho xây lại chợ và đổi
tên là Đông Ba. Chợ cung cấp thực phẩm cho cưng điện, nhà thương, đồn lính, ký
túc xá các trường Quốc học, Đồng Khánh, Bình Linh, Thiên Hựu. Đến năm 1899,
trong công cuộc chỉnh trang đô thị theo phong cách phương Tây, vưa Thành Thái
cho đem chợ ra chỗ bây giờ, đình chợ cũ trở thành trường Pháp Việt Đông Ba. Chợ
Đông Ba thời Thành Thái gồm có 4 dãy quán: trước, sau, phải, trái. Mặt trước một
dãy 8 gian, mặt sau một dãy 12 gian, dãy phía tay phải 13 gian… đều lơp ngói.
Giữa chợ có một tòa lầu vuông ba tầng. Tầng dưới có 4 bức tường, mỗi tường có 2
cửa Tầng trên 4 mặt đều có cửa, đều có mặt đồng hồ để điểm giờ khắc. Trong chợ
xây một giếng đá, có hệ thống máy giúp cho việc múc nước. Khi lấy nước dừng tay
quay máy, tự nhiên nước trong giếng trản lên phun ra.
Đầu thế kỷ 20, chợ Đông Ba được tu sửa nhiểu lẩn
nhưng vẫn giữ cốt cách cũ. Đến năm 1967, chính quyền Sài Gòn cho triệt hạ chợ
cũ và xây lại chợ mới. Công trình đang dang dở thì bị bom pháo Mỹ trong chiến dịch
Huế Xuân 1968 bắn phá tan tành. Sau đó chính quyền Sài Gòn cho sửa chữa tạm đề
buôn bán. Đến năm 1987, chợ Đông Ba được đại trùng tu. Ngoài lầu chuông ở trung
tâm, chợ Đông Ba mới có 9 dãy nhà bao quanh cùng 4 khu hàng mới, như chợ cá,
khu hàng tự sản, tự tiêu, khu hàng dịch vụ… với tổng diện tích mặt bằng xây dựng
15.597m2. Ngoài ra ban quản lý chợ còn quản lý khu Hoa Viên Chương
Dương, các bến bãi đỗ xe ôtô, xe lam, nơi giữ xe đạp, xe máy. . . Nâng tồng diện
tích mặt bằng thuộc chợ lên trên 47.614m2 với 2.543 hộ kinh doanh cố định, 141
lô bạ, 500 – 700 hộ buôn bán rong. Bình quân mỗi ngày có từ 5.000 đến 7.000
khách đến chợ. Vào những dịp 1ễ tết, chợ đông hơn, có trên 1,2 vạn người.
Những tinh tuý văn hoá vật chất của Thừa Thiên – Huế
còn giữ được cho đến nay đều có thể tìm thấy ở chợ Đông Ba như: nón lá Phú Cam,
dao kéo Hiền Lương, đồ kim hoàn Kế Môn, mè xửng Song Hỷ, dâu Truồi, chè Tuần,
quít Hương Cần, thanh trả Lại Bằng, sen khô hổ Tịnh, hàng mã hoa giấy làng Sình
. . .và cả những món ăn Huế truyền thống, bình dân như: Cơm hến, bún bò, bánh
lá, chả tôm, bánh khoái, chè đậu ván… Chợ Đông Ba đã trở thành trung tâm cung cấp
những sơn hào hải vị cho các nhà hàng, khách sạn quốc tế, bán các món đặc sản
Huế cho khách du lịch từ bốn bể năm châu đến tham quan di sản thế giới tại Huế.
Ngày nay chợ Đông Ba giữ một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế thị trường. Ngoài nhiệm vụ cung cấp thực phẩm và hàng tiêu
dùng cho thành phố, chợ Đông Ba còn là nơi tạo việc làm cho hàng ngàn người thất
nghiệp và đóng vào ngân sách nhà nước mỗi năm hàng chục tỷ đồng tiền thuế. Chợ
Đông Ba, cầu Trường Tiền cùng với sông Hương là biếu tượng của xứ Huế thơ mộng.
Văn Miếu Huế
Văn Miếu quay về hướng nam, tọa lạc trên một ngọn đồi
thấp, thuộc xã Hương Long, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế, được lập ra để
tôn vinh các thánh hiền của đạo Nho, đồng thời là nơi đào tạo nhân tài của đất
nước.
Trước đây, các chúa tại thủ phủ và thay đổi vị trí
qua ba địa điểm khác nhau: làng Triều Sơn, làng Lương Quán, làng Long Hồ.
Năm 1808, Gia Long cùng triều đình quyết định chọn một
ngọn đồi thấp phía trên chùa Thiên Mụ, sát tả ngạn sông Hương, tức vị trí hiện
tại để xây Văn Miếu mới uy nghi, đồ sộ .Bấy giờ trường Quốc Tử Gỉám cũng được lập
ra ở đây vả hoạt động mãi cho đến năm 1908 mới dời về thành nội. Công việc xây
dựng Văn Miếu khởi công từ ngày 17/4/1808 đến ngày 12/9/1808 thì hoàn thành.
Các công trình kiến trúc chính đều xây trên mặt bằng
ngọn đồi cao gần 3m so với nền đất xung quanh. Trước mặt là dòng sông Hương,
phía sau là làng mạc, núi đồi lan ra từ rặng Trường Sơn bọc lấy đằng sau Văn Miếu.
Các công trình của Văn Miếu Huế được xây dựng trong mặt bằng hình vuông mỗi cạnh
chừng 160m. Xung quanh có xây la thành bao bọc. Tất cả chừng 50 công trình kiến
trúc lớn nhỏ, trong đó có 32 tấm bia tiến sĩ và 4 tấm bia khác. Văn Miếu (điện
thờ chính đức Khổng Tử và Tứ Phối, thập nhị triết), hai nhà Đông Vu và Tây Vu
(thờ thất thập nhị Hiền và các tiên nho), Thần trù (nhà bếp), Thần khố (nhà
kho), nhà Tổ công, Đại thành môn, Văn Miếu môn… Các toà nhà đều được xây dựng bằng
gỗ lim và các vật liệu đắt giá khác. Bố cục kiến trúc, trang hoàng và trang trí
nội ngoại thất đều mang tính đăng đối uy nghi, văn vẻ.
Văn Miếu đã nhiều lần được tu sửa, xây dựng thêm các
công trình phụ, nhất là dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị. Trong thời trị vì của
vua Gia Long, triều đình chưa mở các kỳ thi Hội, mới chỉ có các khoa thi Hương
nên tại đây chưa dựng bia tiến sĩ. Từ thời Minh Mạng về sau ( 1820 – 1840) mới
mở các khoa thi Hội, nên bắt đầu dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu để khắc tên những
người thi đậu. Các “tiến sĩ đề danh bí” được lần lượt dựng lên ở sân Văn Miếu từ
năm 1831 đến năm 1919, năm có khoa thi Hội cuối cùng dưới thời vua Khải Định…
Hơn nửa thế kỷ nay, chiến tranh và thiên nhiên đã
tàn phá Văn Miếu, chỉ còn lại 34 tấm bia đá là những di tích có giá trị nhất về
nghệ thuật, văn hoá và lịch sử.
Hai tấm bia trong hai Bi đình ở sân Văn Miếu khắc
bài dụ của vua Minh Mạng và Thiệu Trị. Tấm bia bên trái khắc bài dụ của Minh Mạng
đề ngày 17/3/1836, đại thể nội dung nói rằng các thái giám trong nội cung không
được liệt vào hạng người có thể tiến thân. Tấm bia bên phải khắc bài dụ của Thiệu
Trị đề ngày 02/12/1844, ý nói rằng bà con bên ngoại của vua không được nắm
chính quyền. 32 tấm bia tiến sĩ dựng thành hai dãy ở hai bên sân đối diện nhau.
Tất cả 32 bia đều có rùa đội bia và làm bằng đá thanh cẩm thạch. Bia tiến sĩ ở
đây không cao lớn bằng bia ở Văn Miếu Hà Nội nhưng đều đặn hơn, dạng thức,
trang trí khác hơn… Trên 32 tấm bia này đã khắc tên, tuổi, quê quán của 239 vị
tiến sĩ đậu chánh băng qua các kỳ thi Hội được tổ chức dưới triều Nguyễn.
Văn miếu Huế là một di tích lịch sử vô cừng quí
giá.Thăm lại Văn Miếu sẽ giúp du khách hiểu thêm về truyền thống ưa chuộng văn
tài, coi trọng trí thức và khuyến khích người hiếu học của ông cha ta từ ngàn
xưa.



