Trong số các dân tộc ở Việt Nam, tiếng nói, chữ viết
của dân tộc Việt được sử dụng rộng rãi nhất và trở thành tiếng nói, chữ viết phổ
thông, ngôn ngữ chính thức trên toàn đất nước Việt Nam.
Về chữ viết, trong một thời gian dài dưới thời Bắc
thuộc, Việt Nam sử dụng chữ Hán (của Trung Quốc) trong giao dịch, giáo dục,
trong các văn bản của nhà nước phong kiến. Việc sử dụng chữ Hán còn kéo dài đến
đầu thế kỷ 20. Đến thế kỷ thứ 10, song song với việc sử dụng chữ Hán, người Việt
Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm (dùng đặc tính tượng hình của chữ Hán để ký âm tiếng
Việt). Sự xuất hiện của chữ Nôm (có thể) đánh dấu sự trưởng thành trong ý thức
dân tộc của người Việt và giúp cho nền văn học Việt Nam phát triển rực rỡ. Đến
thế kỷ 16, chữ Quốc ngữ xuất hiện sau đó thay thế cả chữ Hán và chữ Nôm.
Từ khi có chữ Hán, chữ Nôm và sau này là chữ Quốc ngữ
thì văn học dân gian đã là chất men tạo nên văn học bác học thực sự của dân tộc
và phát triển thành nền văn học Việt Nam hiện nay. Đó là con đường đi cũng như
đặc điểm ra đời và sự liên quan của văn học dân gian và văn học bác học Việt
Nam.