Chơi cờ tướng là chơi trên bàn cờ. Ba mươi hai quân
cờ bằng gỗ, sừng, hay ngà tiện tròn, đường kính 2cm, dày 1cm. Chơi cờ người
cũng vẫn là luật lệ của cờ tướng. Nhưng quân cờ là người thật, và bàn cờ là sân
đất rộng, đủ đường đi nước bước cho 32 người.
Cuộc đấu cờ người thường được tổ chức trong các hội
hè. Ở các hội làng, bàn cờ là sân đình, sân chùa, hay bãi ruộng khô phẳng gần
nơi đình chùa, tức là gần diễn chùa trường chính của hội. Cuộc đấu cờ người được
chuẩn bị chu đáo hàng tháng trời. Ðịnh được bàn cờ -sân bãi-chỉ mới là việc phụ.
Ðầu tiên là việc tuyển tìm người. Những người được chọn làm quân cờ phải là những
trai thanh gái lịch, con cái của những gia đình có nề nếp được dân làng quý trọng,
đồng tình. Số lượng cần thiết là 16 nam,16 nữ. Trong số này phải chọn ra hai tướng:
một nam, một nữ tướng Ông, tướng Bà. Ngoài ra, không thể thiếu người thứ 33 là
tổng cờ (trọng tài) trực tiếp giúp ban giám khảo theo dõi cuộc đấu. Ba người
này (tổng cờ và hai tướng) là thuộc loaị gia đình khá giả, phong lưu, có thể
"khao quân" khi cần thiết. Chọn xong, tổng cờ họp hai đội nam, nữ
thông báo về trang phục, dặn dò về phong thái trong lúc làm nhiệm vụ "quân
cờ". Quần áo mỗi người tự sắm, song phải thống nhất trong từng phe (quân
đen, quân đỏ) khi ra sân bãi, bàn cờ được tạo ra một màu sắc rực rỡ nhiều màu
dưới trời hội xuân.
Mỗi "quân cờ" có ghế đẩu ngồi có thể có đội
nón nếu trời nắng to. Trước ngực mỗi "quân cờ" có treo tên quân cờ bằng
chữ hán. Còn tướng, trang phục như hình vẽ, hoặc gần như thế, trong quân bài;
đó là quân phục cấp tướng đời xưa, có lọng che. Hai đấu thủ có chỗ ngồi
riêng...
Bên cạnh sự náo động của các trò chơi khác như đánh
đu đầy tính chất hào hứng và lãng mạn; hay cuộc chọi gà "ăn thua"; hoặc
cuộc đấu vật thiên về sức mạnh cơ bắp và dũng khí, thì cái đẹp của sân cờ người
là sự tinh tế, trầm tĩnh, có giá trị di dưỡng tinh thần, và như muốn tạo sự cân
bằng đối với các cuộc đua tài ào ạt kia, đồng thời bổ sung và nâng cao giá trị
văn hoá truyền thống của cả lễ hội qua nhiều thế kỷ lưu truyền.