Tết này còn gọi là tết cả, đứng đầu mọi
lễ tết nên về phong tục “ăn tết” này cả nước như nhau. Khác chăng chỉ là sắc
thái. Cho tới nửa đầu thế kỷ XX Tết ở Hà Nội với mọi tầng lớp nhân dân đều có
hai công đoạn: chuẩn bị và ăn tết. Khâu chuẩn bị thì ngoài việc phải đi “tết”,
tức biếu xén các chỗ cần thiết, nhà nào cũng quét dọn cả nhà, lau chùi bàn thờ
và các đồ thờ tự, sắm sanh lễ vật, may mặc áo quần… Nhà giàu thì bận bịu với việc
mua sắm. Các ông lên Hàng Ngang, Hàng Đường mua vài củ thuỷ tiên để về tự tay
hoặc cho các cô con gái rượu gọt, tỉa, chăm sóc cho nở hoa đúng đêm giao thừa.
Nếu không tự viết lấy câu đối thì lên Hàng Bồ mua mấy câu của các ông đồ già viết
và bày la liệt trên vỉa hè. Tất nhiên là câu đối đỏ, nhưng nếu nhà nào có tang
thì dùng màu vàng hay màu xanh lục. Rồi lên Hàng Lược đã trở thành chợ hoa từ
những năm 20 của thế kỷ XX để mua hoa, cành đào, cành mai, chậu trà, chậu cúc,
chậu quất cả chậu đào nữa, bạt ngàn.
Các bà cũng đến Hàng Đường mua bánh, mứt,
sang Hàng Hương (bây giờ là Hàng Đậu) mua hương, đủ loại hương trầm, hương xạ,
hương bạch đàn, hương thẻ, hương vòng, sang Hàng Buồm, Hàng Cân mua miến mua
măng nấm, không ít bà đến phố Hàng Quạt (nay là Lương Văn Can) lấy áo gấm, áo
đoạn may đo từ dạo tháng 10 ở các cửa hàng của các ông phó may quê làng Trạch
Xá (Ứng Hoà - Hà Tây) nổi tiếng một thời. Và thế nào các bà cũng không quên đến
Hàng Bạc để mà “tắm” lại các đồ trang sức bằng vàng cho đỏ lên, sáng ra.
Nhưng nói chung đối với mọi nhà thì việc
đầu tiên là phải nghĩ đến nồi bánh chưng. Gói bánh, nấu bánh, trông nồi bánh tới
lúc bóc chiếc bánh đầu tiên ăn thử, đối với nhiều mái nhà đã là sự hiện hình của
hạnh phúc. Tiếp đó là công việc gói giò, cầu kỳ thì tự giã lấy giò lụa, cầu kỳ
hơn thì cho cắt trứng gà luộc xếp thành hình hoa chanh giữa lòng cây giò trước
khi luộc. Khi cắt ra mỗi lát giò như một bông hoa. Nếu không thế thì mua giò Ước
Lễ bán ở khắp các chợ, chỉ còn phải gói giò thủ, giò chân, rồi kho khô một nồi
cá, nấu một nồi thịt đông, muối một vại dưa hành để ăn với bánh chưng và dưa cải
ăn với thịt đông. Ngoài ra còn phải lo mua nguyên liệu để làm cỗ, cỗ thì dù nhà
nghèo cũng phải đủ giò, nem, ninh, mọc. Sang trọng thì có thêm bóng cá dưa, cá
thủ, vây cá, bào ngư, long tu, tổ yến.
Ngoài cỗ mặn lại còn cỗ ngọt. Phải có nồi
chè kho, chõ bánh bao, bánh bẻ, chảo bánh vẽ, bánh khoai… và các loại mứt gừng,
mứt quất, mứt sen…
Nhà nghèo thì lo nhiều thứ. Có nồi bánh
chưng là phải tính gạo, tính đậu, tính thịt. Rồi quần áo mới cho các con nhỏ. Lại
vẫn phải quà tết bên nội bên ngoại, tết chủ cho thuê nhà, tết các chủ nợ… Song
“nhà ông dù giàu hay nghèo/ Tối ba mươi tết có thịt treo trong nhà”. Và nữa, mọi
người vẫn có bộ quần áo lành lặn để mặc tết.
Còn khâu ăn tết thì dù Hà Nội hay tỉnh
huyện nào cũng theo phong tục chung. Đêm 30 có mâm cỗ xôi gà cúng giao thừa.
Sáng mùng một, ông đi xông đất các nhà thân thuộc, rồi bà và các con gái thì lo
làm cơm cúng gia tiên. Con cháu về mừng tuổi ông bà bố mẹ. Thân bằng cố hữu tới
mừng tuổi nhau. Bữa cơm đầu năm dù giàu hay nghèo , nhà nào cũng vui vì “đói
ngày giỗ cha, no ba ngày tết”… Và thế là ba ngày tết trôi qua sau những cuộc
qua lại mừng tuổi, trong tiếng pháo nổ ran, trong các trò chơi công cộng quanh
hồ Hoàn Kiếm và các thú vui trong khuôn khổ gia đình như đánh bài, thường là
bài tam cúc, cao hơn một tí thì tổ tôm, chắn, hoặc bài tây, mạt chược (một cách
đánh bài của người Hoa). Nhà giàu mở kèn hát (máy quay đĩa) nghe đào Tửu, đào
Tam hát chèo, đào Nam Phỉ, Phùng Há hát cải lương… thế mà mệt. Chỉ có trẻ em tất
cả đều mừng vui, vì có manh áo mới, có tiền mừng tuổi. Còn người lớn thì lại đi
vào công việc hàng ngày.
Đó là chuyện Tết trước đây. Từ năm chục
năm trở lại đây phong tục tết nguyên đán ở Hà Nội đã có thay đổi. Đó là thời
chiến tranh chống Mỹ (quen gọi là thời bao cấp) rồi thời hoà bình thống nhất
(quen gọi là thời kinh tế thị trường).
Trong thời chiến tranh rất nhiều khó
khăn, song Nhà nước vẫn lo cho dân ăn tết theo phong tục cổ truyền. Thịt mỡ,
dưa hành, câu đối đỏ/ Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh. Các văn hoá vật thể
đó Nhà nước lo hết, dù theo tiêu chuẩn ngặt nghèo song có đủ. Lo tăng thêm cho
dân vài lạng thịt, vài cân gạo nếp, đậu xanh; cung ứng từ gói chè, hộp mứt, gói
thuốc lá, bánh pháo đến miếng bóng bì; từ sợi lạt giang đến chiếc lá dong xanh
chở từ rừng về. Lại thêm cả tiêu chuẩn chất đốt. Rồi in cả câu đối tết, cho dân
đón xuân.
Nghĩ lại, Nhà nước khi đó dù có nhiều
khó khăn mà vẫn lo toan cho hạnh phúc (dù đơn sơ) của toàn dân. Thật đáng trân
trọng.
Nay, kinh tế thị trường, dân khá lên nhiều.
Ăn uống không thành vấn đề. Bánh chưng có các nhà hàng gói, mà quanh năm lúc
nào chẳng có bánh chưng! Y phục, trang sức, tràn trề phường phố. Cho nên dân
thành thị Hà Nội chủ yếu dùng ba ngày tết vào việc thăm viếng bạn bè, vui chơi
giải trí hoặc đi du lịch… Các tục lệ cũ chỉ giữ có lệ đi mừng tuổi và cúng cơm
gia tiên vào sáng mùng Một và “hoá vàng” kết thúc tết vào mùng Ba hoặc mùng Bốn.
Một điều đáng chú ý là khoảng chục năm nay Nhà nước cấm sản xuất và đốt pháo.
Nhân dân hoan nghênh và chấp hành lệnh này.
Cũng phải nhắc đến một phong tục mới nảy
sinh ở Hà Nội từ sau năm 1955 và đã trở thành truyền thống. Đó là tục đón giao
thừa quanh hồ Gươm.
Nguyên từ năm 1955, cán bộ và đồng bào
miền Nam tập kết ra Bắc, một số lớn ở Hà Nội và vùng phụ cận. Nhiều khi hai người
cùng làng nhưng ra Bắc họ được phân về hai tỉnh khác nhau. Nói chung đồng bào tập
kết có nguyện vọng muốn có một địa điểm ở Hà Nội để gặp nhau cuối tuần. Thế là
nhà Khai trí tiến đức ở bên bờ hồ Gươm được tổ chức thành Câu lạc bộ Thống nhất.
Đó là nơi biểu diễn văn nghệ, có các thú vui giải trí lành mạnh, có chút ít ẩm
thực và cơ bản là nơi để đồng bào tập kết từ tất cả các tỉnh miền Nam, vào các
ngày nghỉ lễ và chủ nhật tới đây gặp gỡ, giao lưu. Đặc biệt từ đó các đêm giao
thừa, đồng bào xa xứ, xa gia đình, cư ngụ ở Hà Nội và phụ cận đều về đây tụ hội.
Người cứ ngan ngát dạo quanh hồ Gươm đón chào Xuân mới đang tới. Thấy vui, người
Hà Nội cũng rủ nhau đến ven hồ chia sẻ niềm vui chung. Chính do có sự kiện này
mà Hà Nội hình thành một phong tục mới và đẹp là từ bấy đến nay, cứ đêm giao thừa
mọi người lại đổ ra hồ Gươm đón xuân náo nhiệt, tưng bừng. Chứ trước năm 1955
thì mấy ai ra khỏi nhà đêm 30 tết.